Đáp án giáo dục quốc phòng
Câu 1 Một số vấn đề chung về dân tộc
a) Khái niệm
Dân tộc là cộng đồng người ổn định, hình thành trong lịch sử, tạo lập một quốc gia, trên cơ sở cộng đồng bền vững về: lãnh thổ quốc gia, kinh tế, ngôn ngữ, truyền thống, văn hóa, đặc điểm tâm lý, ý thức về dân tộc và tên gọi của dân tộc.
- Hiểu theo nghĩa của một quốc gia: các thành viên cùng dân tộc sử dụng một ngôn ngữ chung để giao tiếp; chung đặc điểm văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần.
- Hiểu theo nghĩa cộng đồng quốc gia dân tộc: là một cộng đồng chính trị - xã hội, được chỉ đạo bởi một nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ chung.
b) Tình hình quan hệ dân tộc trên thế giới
- Xu thế toàn cầu hóa làm cho các dân tộc có sự hiểu biết lẫn nhau và sự phụ thuộc lẫn nhau tăng lên. Các dân tộc đề cao ý thức độc lập, tự chủ, chống can thiệp, áp đặt.
- Quan hệ giai cấp, dân tộc diễn biến phức tạp, nóng bỏng, khó lường. Mâu thuẫn, xung đột dân tộc, sắc tộc, xu hướng ly khai, chia rẽ dân tộc đang diễn ra khắp trên thế giới.
- Vấn đề quan hệ dân tộc, sắc tộc đã gây nên những hậu quả nặng nề về mọi mặt cho các quốc gia, đe dọa hòa bình, an ninh khu vực và thế giới.
c) Quan điểm chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc.
- Quan điểm chủ nghĩa Mác – Lê nin:
+ Vấn đề dân tộc là những nội dung nảy sinh trong quan hệ giữa các dân tộc diễn ra trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội tác động xấu đến mỗi dân tộc và quan hệ giữa các dân tộc cần phải giải quyết.
+ Vấn đề dân tộc gắn với vấn đề giai cấp, còn tồn tại lâu dài, là vấn đề chiến lược của cách mạng XHCN
+ Giải quyết vấn đề dân tộc là: các dân tộc hoàn toàn bình đẳng; các dân tộc được quyền tự quyết; liên hiệp giai cấp công nhân giữa các dân tộc.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh:
+ Trung thành với chủ nghĩa Mác – Lê nin, bám sát đặc điểm dân tộc và thực tiễn cách mạng Việt Nam, xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam và xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa dân tộc Việt nam với các quốc gia dân tộc trên thế giới.
+ Khắc phục tàn dư tư tưởng phân biệt, kỳ thị dân tộc, tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi.
Câu 2 Chủ quyền lãnh thổ quốc gia

Chủ quyền quốc gia Là quyền làm chủ một cách độc lập, toàn vẹn và đầy đủ về mọi mặt lập pháp, hành pháp và tư pháp của một quốc gia trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia đó. Quốc gia thể hiện chủ quyền của mình trên mọi phương diện kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao.
Tất cả các quốc gia không tính đến quy mô lãnh thổ, dân số, chế độ xã hội đều có chủ quyền quốc gia; đều bình đẳng về chủ quyền, không một quốc gia nào được can thiệp, khống chế, xâm phạm chủ quyền quốc gia khác. Tôn trọng chủ quyền quốc gia là một nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế.

d) Chủ quyền lãnh thổ quốc gia
Là một bộ phận của chủ quyền quốc gia khẳng định quyền làm chủ của quốc gia đó trên vùng lãnh thổ của mình.
Mỗi nước có toàn quyền định đoạt mọi việc trên lãnh thổ của mình, không được xâm phạm lãnh thổ, can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác.
Chủ quyền lãnh thổ quốc gia là tuyệt đối, bất khả xâm phạm; tôn trọng chủ quyền lãnh thổ quốc gia là nguyên tắc cơ bản trong quan hệ và luật pháp quốc tế.

2. Nội dung xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia
- Xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia là thực hiện tổng thể các giải pháp, biện pháp trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại và quốc phòng, an ninh, nhằm thiết lập và bảo đảm quyền làm chủ một cách độc lập, toàn vẹn và đầy đủ về mọi mặt lập pháp, hành pháp,và tư pháp của quốc gia trong phạm vi lãnh thổ.
- Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia là sử dụng tổng hợp các lực lượng và biện pháp chống lại sự xâm phạm, phá hoại dưới mọi hình thức để giữ gìn toàn vẹn chủ quyền nhà nước đối với lãnh thổ quốc gia.
- Xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia Việt Nam là tất yếu, là nhiệm vụ quan trọng của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; nội dung gồm:
+ Xây dựng, phát triển mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại và quốc phòng, an ninh của đất nước.
+ Xác lập và bảo vệ quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp của Việt Nam trên mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại trong phạm vi lãnh thổ của mình.
+ Bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, bao gồm vùng đất, vùng trời, nội thủy, lãnh hải và lãnh thổ đặc biệt của Việt Nam; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu phá hoại, vi phạm chủ quyền, xâm phạm lãnh thổ của Việt Nam.
+ Bảo vệ sự thống nhất lãnh thổ của đất nước, thống nhất về quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Đấu tranh làm thất bại mọi hành động, mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm chia cắt lãnh thổ, phá hoại quyền lực tối cao của nhà nước Việt Nam.
Nội dung xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia gắn bó chặt chẽ và đặt trong tổng thể chiến lược bảo vệ Tổ quốc; thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia là trực tiếp góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt nam XHCN.
Câu 3 Nội dung bảo vệ ANQG
- Bảo vệ an ninh chính trị nội bộ: là các hoạt động bảo vệ chế độ chính trị và Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, bảo vệ Đảng Cộng sản Việt Nam, giữ gìn sự trong sạch, vững mạnh về mọi mặt của tổ chức Đảng, Nhà nước; bảo vệ các cơ quan đại diện và người Việt Nam đang công tác, học tập và lao động ở nước ngoài; chống lại mọi âm mưu, hành động chống phá Đảng và hệ thống chính trị.
- Bảo vệ an ninh kinh tế: là bảo vệ sự ổn định, phát triển vững mạnh của nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN; chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của kẻ thù.
- Bảo vệ an ninh văn hóa, tư tưởng: là bảo vệ sự đúng đắn, vai trò chủ đạo của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong đời sống tinh thần của xã hội; bảo vệ những giá trị đạo đức truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc; chống lại sự công kích của kẻ thù đối với chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; chống lại sự phá hoại truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.
- Bảo vệ an ninh dân tộc: là bảo vệ quyền bình đẳng giữa các dân tộc, bảo đảm cho các thành viên trong đại gia đình dân tộc Việt Nam cùng phát triển theo đúng Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước, chống lại sự lợi dụng dân tộc chống phá cách mạng của kẻ thù.
- Bảo vệ an ninh tôn giáo: là bảo đảm chính sách tự do tín ngưỡng của Đảng và Nhà nước đối với nhân dân, chống lại sự lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng của kẻ thù.
- Bảo vệ an ninh biên giới: là bảo vệ nền an ninh trật tự của Tổ quốc ở khu vực biên giới quốc gia, chống các hành vi xâm phạm chủ quyền biên giới từ phía nước ngoài.
- Bảo vệ an ninh thông tin: là bảo đảm sự an toàn, nhanh chóng, chính xác và bí mật của thông tin trong quá trình xác lập, chuyển tải, thu nhận, xử lý và lưu giữ thông tin; chống lại sự xâm nhập, đánh cắp và phá hoại thông tin của các thế lực thù địch.
.
Câu 4 Thủ đoạn
Diễn biến hoà bình" là chiến lược cơ bản của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch nhằm lật đổ chế độ chính trị - xã hội của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa và các nước không tuân theo sự lãnh đạo của chúng từ bên trong bằng biện pháp phi quân sự

- Mục tiêu của CNĐQ trong sử dụng chiến lược “DBHB”, BLLĐ:
Mục tiêu nhất quán của CNĐQ và các thế lực thù địch trong sử dụng chiến lược “DBHB” đối với Việt Nam là xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xoá bỏ chế độ XHCN, lái Việt Nam đi theo con đường CNTB và lệ thuộc vào CNĐQ
- Về kinh tế
+ Dùng biện pháp kinh tế làm mũi nhọn, từ kinh tế đi vào nội bộ, gây sức ép tác động chuyển hoá chính trị, lái nền kinh tế đi chệch hướng XHCN, theo quỹ đạo TBCN.
+ Khích lệ kinh tế tư nhân phát triển, từng bước làm mất vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước, thu hẹp và làm suy yếu thành phần kinh tế tập thể.
+ Lợi dụng sự giúp đỡ, viện trợ về kinh tế để đặt ra các điều kiện và gây sức ép về chính trị, từng bước chuyển hoá Việt Nam theo con đường TBCN.
- Về Chính trị
+ Kích động đòi thực hiện chế độ “đa nguyên về chính trị, đa đảng đối lập”, “tự do hoá” mọi mặt đời sống xã hội, từng bước xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
+ Tập hợp nuôi dưỡng các tổ chức, phần tử phản động trong và ngoài nước, lợi dụng các vấn đế “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” để chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.
+ Khai thác, tận dụng những sơ hở trong đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta để kích động quần chúng biểu tình, chống đối, gây rối loạn ANCT
- Về tư tưởng – văn hoá
+ Tập trung chống phá về lý luân, quan điểm, đường lối, xoá bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, truyền bá tư tưởng tư sản trong các tầng lớp nhân dân.
+ Kích động lối sống tư sản, gieo rắc “chủ nghĩa thực dụng” trong tầng lớp thanh niên, qua đó tạo sự chuyển hoá tư duy đối lập với quan điểm tư tưởng của Đảng.
+ Lợi dung xu thế mở rộng hợp tác quốc tế, du nhập những sản phẩm văn hoá đồi truỵ, lối sống phương Tây, làm phai mờ bản sắc văn hoá và giá trị văn hoá dân tộc Việt Nam.
- Về tôn giáo, dân tộc
+ Lợi dụng những sơ hở thiếu sót trong thực hiện chính sách dân tộc và những khó khăn ở vùng đồng bào dân tộc ít người, kích động tư tưởng đòi li khai, tự quyết dân tộc.
+ Lợi dụng chính sách tự do tôn giáo của Đảng, Nhà nước để truyền đạo trái phép, thực hiện âm mưu tôn giáo hoá dân tộc.
+ Kích động lôi kéo, tập hợp quần chúng, xây dựng lực lượng, lập các đảng phái, trong các dân tộc thiểu số, tôn giáo chống đối, gây rối TTATXH, tiến tới bạo loạn lật đổ.
- Về quốc phòng, an ninh
+ Kích động đòi phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh và đối với lực lượng vũ trang.
+ Chủ trương vô hiệu hoá sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện âm mưu “phi chính trị hoá” và làm cho quân đội, công an mất bản chất cách mạng, xa rời mục tiêu chiến đấu.
- Về đối ngoại
+ Núp dưới danh nghĩa “ngoại giao thân thiện” để hướng Việt Nam đi theo quỹ đạo CNTB, tạo cơ hội đưa Việt Nam hoà nhập dần với các nước “dân chủ” phương Tây.
+ Hạn chế sự mở rộng quan hệ hợp tác của Việt Nam với các nước lớn trên thế giới, tìm cách ngăn cản những dự án đầu tư quốc tế vào Việt Nam.
+ Coi trọng việc chia rẽ tình đoàn kết hữu nghị giữa Việt Nam với Lào, Cămpuchia và các nước XHCN, hạ thấp uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.
Câu 5 Biện pháp thụ động
Vũ khí công nghệ cao là vũ khí được nghiên cứu, thiết kế, chế tạo dựa trên những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, có sự nhảy vọt về chất lượng và tính năng kĩ - chiến thuật.


a) Phòng chống trinh sát của địch
- Làm hạn chế đặc trưng của mục tiêu:
+ Sử dụng các thủ đoạn chiến thuật, kỹ thuật, làm giảm thiểu đặc trưng vật lý của mục tiêu, xoá bỏ sự khác biệt giữa mục tiêu với môi trường xung quanh.
+ Sử dụng các biện pháp kỹ thuật giảm bớt các đặc trưng ánh sáng, âm thanh, điện từ, bức xạ hồng ngoại… của mục tiêu.

- Che giấu mục tiêu:
+ Lợi dụng địa hình, địa vật che đậy kín đáo như để trong hang động, gầm cầu…
+ Lợi dụng đêm tối, sương mù, màn mưa để che dấu âm thanh, ánh sáng, điện từ, nhiệt.
+ Kiểm soát chặt chẽ việc mở máy hoặc phát sóng của ra đa và thiết bị thông tin liên lạc.

- Ngụy trang mục tiêu:
+ Làm cho mục tiêu gần như hòa nhập vào môi trường xung quanh.
+ Sử dụng các khí tài ngụy trang như màn khói, lưới ngụy trang, sợi bạc, thay đổi tần phổ quang học hoặc phản xạ điện từ…
+ Kết hợp ngụy trang với nghi binh, nghi trang và cơ động.

- Tổ chức tốt việc nghi binh đánh lừa địch
+ Tạo hiện tượng giả, mục tiêu giả để đánh lừa, làm cho địch nhận định sai ý định, hành động của ta, dẫn đến sai lầm, bị động trong tác chiến.
+ Các hình thức nghi binh:
Theo phạm vi không gian, có thể chia thành các loại nghi binh ở: chính diện, bên sườn, trung thâm, trên bộ, trên không, trên biển…
Theo mục đích, có thể chia thành các loại: nghi binh thể hiện sức mạnh, nghi binh để tỏ ra yếu kém, nghi binh để thể hiện thế trận, nghi binh để tiến công hoặc để rút lui…
+ Thủ đoạn, biện pháp: nghi binh về binh lực, nghi binh về hỏa lực, nghi binh điện tử, bày giả mục tiêu, kết hợp với điều kiện tự nhiên đặt các mục tiêu giả để làm thay đổi cục bộ nền môi trường, chiến trường và các nghi binh kỹ thuật khác.
b) Dụ địch đánh vào những mục tiêu có giá trị thấp
Lợi dụng đặc điểm của VKCNC là giá thành cao, chúng ta có thể sử dụng mục tiêu giả, mục tiêu giá trị thấp để làm phân tán lực lượng và gây tiêu hao lớn cho địch.

c) Tổ chức, bố trí lực lương phân tán, có khả năng tác chiến độc lập
Tổ chức bố trí lực lượng phân tán, có khả năng tác chiến độc lập là thu nhỏ quy mô các lực lượng lớn, bố trí theo nhu cầu nhiệm vụ nhưng các đơn vị vẫn có đủ khả năng để thực hiện được các nhiệm vụ phòng thủ, tiến công, cơ động chi viện...giảm thiểu tổn thất khi địch sử dụng VKCNC.
+ Bố trí phân tán lực lượng không theo quy tắc, kết hợp xen kẽ với xây dựng các khu vực tác chiến du kích và chủ động đánh địch.
+ Bố trí lực lượng phân tán nhưng sẵn sàng tập trung khi cần thiết sẽ giảm bớt sự chi viện và giảm bớt được sự tổn thất cho lực lượng dự bị.
+ Bố trí phân tán sẽ tăng thêm khó khăn cho đối phương trong việc trinh sát phát hiện mục tiêu, phán đoán tình hình và xác định phạm vi đánh, làm giảm hiệu quả tác chiến của địch.

d) Kết hợp xây dựng cơ sở hạ tầng, đô thị với xây dựng hầm ngầm để tăng khả năng phòng thủ
+ Không nên xây dựng các thành phố quá đông dân cư, các khu công nghiệp tập trung mà xây dựng nhiều thành phố vệ tinh và tập trung phát triển mạng giao thông.
+ Xây dựng đường cao tốc phải kết hợp tạo ra những đoạn đường có thể làm đường băng cho máy bay cất cánh. Xây dựng đường xe điện ngầm ở các thành phố lớn để sử dụng ẩn nấp khi chiến tranh xẩy ra. Xây dựng cầu phải kết hợp cả việc sử dụng bến phà, bến vượt…
+ Xây dựng nhà cao tầng phải tính đến số lượng tầng cao, các công trình lớn của quốc gia, của các bộ, ngành phải có tầng hầm lưỡng dụng, thời bình dùng để xe, làm kho, thời chiến làm hầm ẩn nấp.
+ Xây dựng các nhà máy thủy điện, điện hạt nhân phải tính đến khả năng bảo vệ, phòng chống máy bay đánh phá.

Câu 6. XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG DÂN QUÂN TỰ VỆ
1. Khái niệm, vị trí vai trò và nhiệm vụ của lực lượng dân quân tự vệ
a) Khái niệm DQTV
- DQTV là lực lượng vũ trang quần chúng không thoát ly sản xuất, công tác, là một bộ phận của LLVT nhân dân của Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
- Đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý, điều hành của Chính phủ và của ủy ban nhân dân các cấp,
- Sự chỉ đạo, chỉ huy thống nhất của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và sự chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp của cơ quan quân sự địa phương.
Dân quân được tổ chức ở xã, phường, thị trấn; tự vệ được tổ chức ở cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội.

b) Vị trí vai trò của DQTV
- Là một lực lượng chiến lược trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Lực lượng nòng cốt xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân trong thời bình tại địa phương và phong trào toàn dân đánh giặc trong thời chiến.
- Là một trong những công cụ chủ yếu để bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, bảo vệ Đảng, chính quyền, tính mạng, tài sản của nhà nước, nhân dân ở cơ sở.

c) Nhiệm vụ của lực lượng DQTV
- Sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu, phục vụ chiến đấu. Làm nòng cốt cùng toàn dân đánh giặc bảo vệ địa phương, cơ sở.
- Phối hợp với quân đội, công an và các lực lượng khác bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, ANCT, TTATXH, bảo vệ Đảng, chế độ XHCN, chính quyền, tính mạng, và tài sản của nhân dân, tài sản của nhà nước, của tổ chức cơ sở, tính mạng và tài sản của cá nhân, tổ chức người nước ngoài, các mục tiêu, các công trình quốc phòng, an ninh trên địa bàn.
- Xung kích trong bảo vệ sản xuất, phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, địch họa và các sự cố nghiêm trọng khác.
- Vận động nhân dân thực hiện mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; tích cực thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, góp phần xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo pháp luật.


2. Nội dung xây dựng dân quân tự vệ
a) Phương châm xây dựng
Xây dựng DQTV theo hướng “vững mạnh, rộng khắp, coi trong chất lượng là chính”
- Vững mạnh:
+ Chất lượng phải toàn diện cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, và chuyên môn nghiệp vụ.
+ Biên chế, trang bị hợp lý, thống nhất, cơ động nhanh, sẵn sàng chiến đấu cao.
- Rộng khắp:
+ Ở đâu có tổ chức Đảng, chính quyền và có dân đều phải tổ chức DQTV.
+ Trường hợp các doanh nghiệp không đủ điều kiện tổ chức DQTV, nếu có yêu cầu th́ công nhân được tham gia DQTV ở địa phương nơi cư trú.
- Coi trọng chất lượng là chính:
+ Chất lượng là yếu tố cơ bản, là điều kiện cần thiết để xây dựng DQTV vững mạnh.
+ Coi trọng chất lượng là phải có lý lịch rõ ràng, có phẩm chất đạo đức tốt, sức khỏe phù hợp, chấp hành đúng đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các quy định ở địa phương.

b) Tổ chức, biên chế, trang bị của lực lượng DQTV
- Về tổ chức:
DQTV được tổ chức thành 2 lực lượng: lực lượng nòng cốt (lực lượng chiến đấu) và lực lượng rộng rãi (lực lượng phục vụ chiến đấu).

+ Lực lượng DQTV nòng cốt:
Bao gồm DQTV bộ binh, DQTV binh chủng và DQTV biển, được tổ chức thành lực lượng cơ động và lực lượng tại chỗ. Ngoài ra còn có lực lượng dân quân thường trực.
Nhiệm vụ của lực lượng cơ động là chiến đấu tại địa phương và sẵn sàng cơ động chiến đấu ở địa phương khác. Nhiệm vụ của lực lượng chiến đấu tại chỗ là sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu , khi cần có thể tăng cường cho lực lượng cơ động.

+ Lực lượng DQTV rộng rãi:
Gồm cán bộ, chiến sỹ DQTV đã hoàn thành nghĩa vụ DQTV và công dân khác được tuyển chọn theo quy định.
Có nhiệm vụ phục vụ chiến đấu, vận chuyển tiếp tế, khắc phục hậu quả chiến đấu, bảo vệ và sơ tán nhân dân.

+ Về quy mô tổ chức: Tổ chức từ cấp tổ, tiểu đội, trung đội, đại đội, tiểu đoàn.

- Về biên chế: Biên chế DQTV được thống nhất trong toàn quốc do Bộ Quốc phòng quy định.

- Cơ cấu và chức năng của cán bộ quân sự cơ sở, phân đội:
+ Ban chỉ huy quân sự:
Tổ chức ở xã, phường, thị trấn, các doanh nghiệp ở địa phương và các ngành của nhà nước gồm 3 người: chỉ huy trưởng, chính trị viên và phó chỉ huy trưởng.
Chịu trách nhiệm làm tham mưu giúp cấp ủy, chính quyền cấp mình tổ chức triển khai công tác hoạt động DQTV.
Ban chỉ huy quân sự do chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện (quận) bổ nhiệm theo đề nghị của ủy ban nhân dân cấp xã (phường, thị trấn) sau khi đã thống nhất với huyện (quận ) đội trưởng.

+ Ban chỉ huy tiểu đoàn, đại đội: Gổm 3 người: Chỉ huy trưởng, chính trị viên, phó chỉ huy trưởng, do quân khu quyết định.

+ Cấp trung đội, tiểu đội và tương đương: có một cấp trưởng và một cấp phó. trung đội trưởng, tiểu đội trưởng, khẩu đội trưởng dân quân tự vệ do huyện (quận) đội trưởng bổ nhiệm theo đề nghị của xã (phường, thị) đội trưởng.

- Về vũ khí, trang bị của DQTV:
Vũ khí, trang bị cho DQTV từ các nguồn do Bộ Quốc phòng cấp, các địa phương tự chế tạo hoặc thu được của địch.

c) Giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự đối với DQTV
Nhằm làm cho DQTV nâng cao nhận thức về chính trị, lập trường tư tưởng, đạo đức cách mạng trong sáng, luôn trung thành với Đảng, Tổ quốc; có trình độ quân sự và kỷ luật nghiêm.
Nội dung giáo dục, thực hiện giáo dục, huấn luyện hàng năm theo chương trình quy định của Bộ Quốc phòng. Huấn luyện toàn diện cho các đối tượng sát với nhiệm vụ của địa phương, cơ sở.

3. Một số biện pháp xây dựng DQTV trong giai đoạn hiện nay
- Thường xuyên giáo dục, quán triệt sâu rộng các quan điểm, chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác DQTV.
- Phát huy sức mạnh tổng hợp trên địa bàn để xây dựng lực lượng DQTV
- Xây dựng DQTV gắn với xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện.
- Thực hiện đúng các chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với lực lượng DQTV.

II. XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG DỰ BỊ ĐỘNG VIÊN
1.Khái niệm, vị trí vai trò
a) Khái niệm
Lực lượng DBĐV gồm quân nhân dự bị và phương tiện kỹ thuật đã xếp trong kế hoạch bổ sung cho lực lượng thường trực của quân đội, nhằm duy trì tiềm lực quân sự, là yếu tố góp phần quyết định sự thắng lợi trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.
+ Quân nhân dự bị gồm sỹ quan dự bị, quân nhân chuyên nghiệp dự bị, hạ sỹ quan và binh sỹ dự bị.
+ Phương tiện kỹ thuật gồm các phương tiện nằm trong danh mục quy định của Chính phủ như các phương tiện: vận tải, xếp dỡ, thông tin liên lạc, y tế...

b) Vị trí vai trò công tác xây dựng lực lượng DBĐV
+ Xây dựng lực lượng DBĐV giữ vị trí rất quan trọng trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc XHCN, ảnh hưởng đến số lượng, chất lượng, sức mạnh chiến đấu của quân đội.
+ Là một trong những nhiệm vụ cơ bản góp phần xây dựng tiềm lực, thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận chiến tranh nhân dân.
+ Bảo đảm nguồn nhân lực mở rộng quân đội khi đất nước sang trạng thái chiến tranh.
+ Phối hợp chặt chẽ với DQTV, công an... tăng sức mạnh chiến đấu trên các địa bàn trong khu vực phòng thủ, bảo đảm sự vững chắc của thế trận quốc phòng ở địa phương, cơ sở.
+ Thể hiện quán triệt quan điểm về sự kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; giữa phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng – an ninh.
+ Xây dựng lực lượng DBĐV tốt sẽ làm nòng cốt cho xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội và trong thực hiện chiến lược quốc phòng – an ninh, chiến lược bảo vệ Tổ quốc.

2. Những quan điểm, nguyên tắc xây dựng lực lượng DBĐV
a) Xây dựng lực lương DBĐV bảo đảm số lượng đủ, chất lượng cao, xây dựng toàn diện nhưng có trọng tâm, trọng điểm
- Xây dựng lực lượng DBĐV là một vấn đề hệ trọng liên quan đến vận mệnh quốc gia, phải được xây dựng hùng hậu ngay từ thời bình. Bảo đảm về số lượng và chất lượng.
- Số lượng đủ thể hiện ở quy mô, số lượng đơn vị, tổng quân số, tổng số phương tiện kỹ thuật được tổ chức xây dựng và chuẩn bị, sẵn sàng bổ sung cho quân đội theo kế hoạch.
- Chất lượng cao được thể hiện trên tất cả các mặt: chính trị, tư tưởng, tổ chức, lãnh đạo, chỉ huy, trình độ kỹ thuật, chiến thuật, chuyên môn nghiệp vụ, trang bị và khả năng bảo đảm hậu cần kỹ thuật; trong đó chính trị, tư tưởng làm cơ sở.
- Trong quá trình xây dựng lực lượng DBĐV phải luôn tập trung thực hiện tốt các khâu quản lý, giáo dục, tạo nguồn.

b) Xây dựng lực lượng DBĐV phải phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị
- Xây dựng lực lượng DBĐV phải phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị là một quan điểm cơ bản, mang tính nguyên tắc.
- Xây dựng lực lượng DBĐV là nhiệm vụ chính trị thường xuyên của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, là cuộc vận động chính trị sâu sắc trong quần chúng về bảo vệ Tổ quốc.
- Sức mạnh tổng hợp là sự lãnh đạo của Đảng; sự quản lý, điều hành của chính phủ, chính quyền các cấp theo pháp luật; sự hiệp đồng thực hiện giữa các đơn vị quân đội, cơ quan quân sự với các cơ quan chính quyền, các tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội.
- Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị là yếu tố cơ bản nhất luôn bảo đảm cho lực lượng DBĐV có số lượng đủ, chất lượng cao, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ.

c) Xây dựng lực lượng DBĐV đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng các cấp ở địa phương, bộ, ngành
- Xây dựng lực lượng DBĐV có vị trí, tầm quan trọng trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc, phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng.
- Là nguyên tắc cơ bản bảo đảm cho lực lượng DBĐV luôn có mục tiêu, phương hướng, nội dung xây dựng đúng đắn, bảo đảm cho sức mạnh chiến đấu của quân đội.
- Sự lãnh đạo của Đảng trong xây dựng lực lượng DBĐV được thể hiện trên tất cả các khâu, các bước trong quá trình thực hiện.

3. Nội dung xây dựng lực lượng DBĐV
a) Tạo nguồn, đăng ký, quản lý lực lượng DBĐV
- Tạo nguồn:
+ Đối sỹ quan: lựa chọn từ sỹ quan phục viên, xuất ngũ; cán bộ chuyên môn kỹ thuật ngoài quân đội; đào tạo từ hạ sỹ quan, nam sinh viên tốt nghiệp đại học.
+ Đối với hạ sỹ quan, chiến sỹ, sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, có đủ điều kiện về phẩm chất, năng lực, sức khỏe đưa vào tạo nguồn.
- Đăng ký quản lý nguồn:
Việc đăng ký, quản lý lực lượng DBĐV phải có kế hoạch thường xuyên, chặt chẽ và chính xác, đăng ký cả con người và phương tiện kỹ thuật.
+ Đối với quân nhân dự bị: được tiến hành đăng ký, quản lý tại nơi cư trú, do Ban chỉ huy quân sự xã (phường), Ban chỉ huy quân sự huyện (quận và tương đương) thực hiện.
+ Đối với phương tiện kỹ thuật, phải đăng ký, quản lý chính xác thường xuyên cả số lượng, chất lượng, tình trạng kỹ thuật của từng phương tiện.
- Tổ chức biên chế đơn vị DBĐV:
+ Tổ chức sắp xếp quân nhân dự bị, phương tiện kỹ thuật thành từng đơn vị DBĐV theo kế hoạch để quản lý, huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu.
+ Các loại hình biên chế hiện nay: đơn vị biên chế đủ; đơn vị biên chế thiếu; đơn vị biên chế khung thường trực, đơn vị không có khung thường trực; đơn vị chuyên môn thời chiến.
+ Nguyên tắc sắp xếp: Sắp xếp theo chuyên nghiệp quân sự, chuyên môn kỹ thuật phù hợp với chức danh biên chế, nếu thiếu thì sắp xếp người có trình độ tương ứng; quân nhân dự bị hạng một trước, nếu thiếu xếp tiếp hạng hai.

b) Giáo dục chính trị, huấn luyện, diễn tập, kiểm tra đơn vị DBĐV
- Giáo dục chính trị:
Giáo dục chính trị nhằm làm cho cán bộ, chiến sỹ nâng cao nhận thức về chính trị, có lập trường tư tưởng vững vàng, trung thành với Đảng, với Tổ quốc, nhân dân.
Nội dung giáo dục: Đường lối, quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước, truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc. Giáo dục chính trị cho tất cả các đối tượng.
- Công tác huấn luyện: Huấn luyện theo phương châm “chất lượng, thiết thực, hiệu quả, tập trung có trọng tâm, trọng điểm”. Nội dung huấn luyện, diễn tập theo chương trình quy định của Bộ Quốc phòng và kế hoạch của đơn vị, địa phương.

c) Bảo đảm hậu cần, kỹ thuật, tài chính cho xây dựng lực lương DBĐV
Vật chất kỹ thuật, kinh phí là yếu tố rất quan trọng để bảo đảm vũ khí trang bị, hậu cần kỹ thuật và tài chính. Yêu cầu phải bảo đảm đúng mức, kịp thời để triển khai thực hiện.
Việc bảo đảm vật chất, kinh phí, hàng năm Chính phủ giao chỉ tiêu nhiệm vụ cụ thể cho các bộ, ngành, địa phương thực hiện.

4. Một số biện pháp xây dựng lực lượng DBĐV
- Thường xuyên giáo dục sâu rộng trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân về vị trí và những quan điểm của Đảng, Nhà nước đối với lực lượng DBĐV.
- Thực hiện cơ chế Đảng lãnh đạo, chính quyền điều hành, cơ quan quân sự và các cơ quan chức năng làm tham mưu và tổ chức thực hiện.
- Thường xuyên củng cố, kiện toàn, bồi dưỡng cơ quan và đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng lực lượ DBĐV.
- Thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với lực lượng DBĐV.


Download tại đây
[Only registered and activated users can see links. Click Here To Register...]

Bài Viết Cùng Chuyên Mục: