>>Suy Ngẫm: Hãy ghi nhớ ba chữ “trọng”: tôn trọng mình; tôn trọng người khác; giữ lấy tôn trọng, phải có trách nhiệm đối với hành vi của mình.
Hiện kết quả từ 1 tới 1 của 1

Chủ đề: TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN

  1. 1
    #1
    Quản Lý Tổng Thể Avatar của Boot
    Tham gia ngày
    Mar 2011
    Bài gửi
    685

    Level: 38 [?]
    Experience: 1.459.159
    Next Level: 1.460.206

    Thanks
    13
    Thanked 325 Times in 127 Posts
    Level: 23 [♥ Mr.Km ♥]
    Life: 0 / 570
    Magic: 228 / 9714
    Experience: 80%

    Mặc định TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN

    Tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam rất đa dạng về chủng loại và nguồn gốc. Các công trình nghiên cứu, điều tra, đánh giá và thăm dò koáng sản đã ghi nhận ở nước ta, không tính vật liệu xây dựng thông thường, có mặt 51 khoáng sản khác nhau. Chúng đượch xếp vào 2 nhóm chính: nhóm khoáng sản kim loại và nhóm khoáng sản không kim loại.
    Urani và than trước đây được coi là tài nguyên khoáng sản nhưng theo quan niệm mới, được chuyển sang nhóm tài nguyên năng lượng. Ngoài ra các khoáng sản sericit và đá hoa, trước đây chưa được tổng hợp, cũng được bổ sung trong công trình này.
    I.1. Nhóm khoáng sản kim loại
    I.1.1. Sắt, hợp kim sắt
    1. Sắt
    Quặng sắt ở Việt Nam đã biết khoảng 230 tụ khoáng và điểm khoáng, phân bố tập trung chủ yếu trong các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh. Có 4 kiểu nguồn gốc chính: skarn, nhiệt dịch, biến chất và phong hóa.
    - Quặng sắt skarn tuy có số lượng tụ khoáng đã biết không nhiều nhưng lại có tài nguyên và trữ lượng lớn nhất trong các nhóm tụ khoáng sắt, điển hình là tụ khoáng sắt Thạch Khê (Hà Tĩnh). Tụ khoáng nằm trên vùng bờ biển, dưới lớp phủ 50-120 m, phân bố trên chiều dài hơn 3000 m, rộng 450-500 m, nơi rộng nhất tới 800 m, chiều dày trung bình thân quặng khoảng 200 m. Thành phần khoáng vật quặng chủ yếu là magnetit, một phần, ở phía đông bắc quặng bị phong hóa thành limonit, goethit nhưng vẫn có từ tính cao. Hàm lượng Fe thay đổi trong khoảng 30-75%, trong đó quặng giàu (50-65% Fe) chiếm chủ yếu. Tổng trữ lượng và tài nguyên cấp 121+122+333 (B+C1+C2) đã tính được khoảng 544 triệu tấn quặng [Bùi Tất Hợp và nnk., 2007]. Tụ khoáng này đã được thăm dò, đang được khai thác [Bùi Tất Hợp và nnk., 2007].
    Ngoài tụ khoáng Thạch Khê, quặng sắt nguồn gốc skarn còn được biết ở một vài nơi khác như Bó Lếch, Ngườm Cháng, Nà Rụa, Bản Lũng (Cao Bằng) và một vài nơi khác.
    - Quặng sắt dạng mạch nhiệt dịch (nhiệt dịch-biến chất trao đổi) phân bố rộng rãi ở các tỉnh Hà Giang (Sàng Thần, Tòng Bá), Thái Nguyên (Trại Cau). Các tụ khoáng nguồn gốc nhiệt dịch chỉ có quy mô trung bình và nhỏ. Tụ khoáng có quy mô lớn nhất là Sàng Thần, có tổng trữ lượng khoảng 32 triệu tấn, Tiến Bộ (Thái Nguyên) khoảng 22 triệu tấn, Trại Cau (Thái Nguyên) khoảng 11 triệu tấn, Tòng Bá (Hà Giang) khoảng hơn 6 triệu tấn [Bùi Tất Hợp và nnk., 2007].
    - Tụ khoáng quặng sắt kiểu quarzit sắt (trầm tích – biến chất) phổ biến trên diện tích phát triển các thành tạo biến chất trên lãnh thổ các tỉnh Yên Bái, Phú Thọ thuộc địa khu Hoàng Liên Sơn. Vùng quặng sắt điển hình là Làng Mỵ-Hưng Khánh (Yên Bái) và Thanh Sơn (Phú Thọ), trong đó vùng quặng sắt Làng Mỵ-Hưng Khánh đã được điều tra, đánh giá còn một số tụ khoáng đã và đang được thăm dò tính trữ lượng; Vùng quặng sắt Thanh Sơn có một số tụ khoáng đang được thăm dò. Quặng sắt dạng vỉa, dạng thấu kính, chủ yếu chỉnh hợp với đá vây quanh, có nơi gặp quặng dạng mạch muộn xuyên cắt các thành tạo biến chất. Quặng phân bố chủ yếu trong các tập quarzit phân lớp, phân dải. Thành phần khoáng vật chủ yếu gồm magnetit và hematit, khoáng vật không quặng chủ yếu là thạch anh. Hàm lượng quặng thường nghèo, thay đổi trong khoảng 25-30% Fe. Tổng trữ lượng và tài nguyên quặng sắt vùng Làng Mỵ-Hưng Khánh và lân cận khoảng 76 triệu tấn quặng, vùng Thanh Sơn khoảng 30-35 triệu tấn [Bùi Tất Hợp và nnk., 2007].
    - Quặng sắt nguồn gốc phong hóa phân bố gần như trong hầu khắp các tỉnh trung du miền núi Bắc Bộ, Trung Bộ. Số lượng tụ khoáng quặng sắt thuộc nhóm này cũng chiếm ưu thế, gần 200 tụ khoáng. Quặng có thành phần khoáng vật chủ yếu gồm limonit, goethit, được hình thành do rửa lũa, làm giàu khoáng vật chứa sắt hoặc thấm đọng lấp đầy khe nứt. Các tụ khoáng quặng sắt nguồn gốc phong hóa điển hình có quy mô lớn gồm tụ khoáng Quý Xa (Lào Cai) có trữ lượng khoảng 135 triệu tấn quặng, vùng quặng Hương Sơn (Hà Tĩnh)-với tài nguyên khoảng 6-7 triệu tấn; vùng quặng Mộ Đức (Quảng Ngãi) cói tổng tài nguyên khoảng 8 triệu tấn [Bùi Tất Hợp và nnk., 2007].
    Một kiểu quặng sắt phong hóa phổ biến, có tài nguyên rất lớn nhưng chưa được điều tra đây đủ là quặng phong hóa laterit trên bề mặt các đá giàu khoáng vật sắt, điển hình là trên các bề mặt phong hóa đá basalt vùng Tây Nguyên. Thành phần khoáng vật kiểu quăng này chủ yếu là limonit, goethit và sét. Trước mắt, quặng laterit thích hợp cho sử dụng làm phụ gia xi măng. Vấn đề lớn nhất cần giải quyết đối với loại quặng này để có thể sử dụng cho luyện kim, là hàm lượng Al2O3 trong quặng cao, có thể tới 10-15% gây ảnh hưởng lớn đến tiêu tốn nhiên liệu.

    Maghemit (Mg) Mỏ Làng Mỵ Cấu tạo dải. Kiến trúc hạt tha hình. 40X. Ảnh Hoàng Thị Thoa.
    Manhetit hạt tự hình, nửa tự hình cùng hematit hạt tha hình xâm tán trong đá (100X). Mỏ Tùng Bá. Ảnh Nguyễn Quang Luật.



    Quặng sắt Làng Mỵ-Yên Bái.TPKV: manhetit, hematit. Cấu tạo dải (quarzit sắt). Ảnh Trần Bỉnh Chư. Quặng sắt Tùng Bá- Hà Giang. TPKV: hematit, magnetit, cấu tạo dải. Ảnh Nguyễn Quang Luật.


    Quặng sắt nâu Quý Xa-Lào Cai.TPKV: Limonit, goethit, manganit. Cấu tạo đặc sít. Ảnh Trần Bỉnh Chư. Quặng sắt, Nà Rụa - Cao Bằng. TPKV: hematit, magnetit, cấu tạo đặc sít. Ảnh Nguyễn Quang Luật.


    Hematit hạt định hướng kéo dài, cấu tạo dải. Mỏ Làng Lếch, Lào Cai. Ảnh Nguyễn Quang Luật. Hematit hạt định hướng kéo dài, cấu tạo dải. Mỏ Tùng Bá, Hà Giang. Ảnh Nguyễn Quang Luật.

    2. Mangan
    Quặng mangan ở Việt Nam có tiềm năng hạn chế, phân bố chủ yếu ở Hà Giang, Cao Bằng, Nghệ An và Hà Tĩnh.
    Theo thành phần, quặng mangan được chia thành quặng mangan và sắt-mangan, trong đó quặng mangan có hàm lượng Mn từ 20-25% trở lên, tỷ lệ Mn/Fe không nhỏ hơn 3. Theo nguồn gốc, các tụ khoáng mangan và sắt-mangan ở Việt Nam được phân loại thành 3 kiểu chính: tụ khoáng mangan trầm tích, trầm tích thấm đọng trong đá vôi và đá phiến silic; tụ khoáng phong hóa thấm đọng trong các đới tập trung khe nứt trên vùng có trầm tích chứa mangan và quặng lăn eluvi-deluvi. Quặng mangan chỉ gặp chủ yếu ở kiểu tụ khoáng trầm tích trong đá vôi, quặng sắt – mangan gặp cả trong 3 kiểu tụ khoáng nhưng phổ biến là kiểu tụ khoáng nguồn gốc thấm đọng và kiểu quặng lăn eluvi-deluvi.
    - Quặng mangan trầm tích nằm trong đá vôi và đá phiến silic, phân bố chủ yếu ở Trùng Khánh – Hạ Lang (Cao Bằng), một ít ở Hà Giang và Tuyên Quang. Quặng trầm tích hầu hết đã được tái tạo làm giàu nhờ quá trình phong hóa, thấm đọng. Thành phần khoáng vật chính của quặng gồm pyrolusit, psilomelan, manganit, limonit. Các tụ khoáng có thân quặng quy mô tương đối lớn, chất lượng quặng cao phân bố trong đá vôi: Tốc Tát, Bản Khuông, Roỏng Tháy, Lũng Luông (Cao Bằng), trong đó các tụ khoáng lớn nhất là Tốc Tát, có trữ lượng và tài nguyên cấp 121+122+333 (B+C1+C2) gần 1,3 triệu tấn quặng; tiếp đên Lũng Luông hơn 650 ngàn tấn cấp 122+333 (C1+C2), Bản Khuông có hơn 700 ngàn tấn cấp 122+333, Roỏng Tháy có gần 600 ngàn tấn cấp 122+333 [Bùi Tất Hợp và nnk., 2007]. Các tụ khoáng phân bố trong đá phiến silic thường có thân quặng nhỏ, hàm lượng nghèo và hàm lượng Fe cao (quặng sắt-mangan).
    - Quặng mangan thấm đọng và quặng lăn deluvi – eluvi có thành phần là sắt-mangan, trong đó hàm lượng Mn ít khi đạt đến 15-20 %. Quặng lăn deluvi – eluvi thường gặp ngay trên diện tích phân bố quặng thấm đọng và là sản phẩm phá hủy của quặng thấm đọng. Các tụ khoáng quặng sắt-mangan thấm đọng điển hình là Đồng Tâm (Hà Giang, có tổng tài nguyên khoảng 3,2 triệu tấn quặng) và Đức Thọ-Can Lộc (Hà Tĩnh, 2,4 triệu tấn quặng) [Bùi Tất Hợp và nnk., 2007].
    Ở một số nơi, thường là trong các thung lũng kiểu carst, gần các tụ khoáng mangan gốc, còn gặp kiểu tụ khoáng sa khoáng mangan kiểu kết vón, hàm lượng Mn trong tinh quặng giàu (trên 35%), tuy nhiên quy mô loại quặng này thường hạn chế.
    Download
    Mã:
    [Only registered and activated users can see links. Click Here To Register...]

    Bài Viết Cùng Chuyên Mục:

    Tất cả các file đều có pass giải nén là: diachatvietnam.net

  2. The Following 2 Users Say Thank You to Boot For This Useful Post:

    Hạo Trung (01-09-2014), vinhyen91 (04-29-2014)

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Tags for this Thread

Đánh dấu

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của mình
  •  
RSS RSS 2.0 XML MAP